Dược vị

Mô tả

Bạch cập là một loại cây thảo sống lâu năm, mọc hoang và được trồng ở những vùng đất ẩm, mát, có thân rễ, có vẩy. Lá mọc từ rễ lên, chừng 3-5 là hình mác dài từ 18-40cm, rộng 2.5-5cm, trên có nhiều nếp nhăn dọc. Vào đầu mùa hạ, ở đầu cành có hoa rất đẹp màu đỏ tía, quả hình thoi.

Xuất xứ

Bạch cập mọc hoang dại ở nhiều vùng cao mát ở nước ta như Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai...

Tính vị

Bạch cập có vị đắng, tính bình.

Quy kinh

Bạch cập quy vào kinh Phế.

Thu Hái Chế Biến

  Thân rễ bạch cập thu hái vào các tháng 2-8 ở những cây đã mọc được 2-3 năm, bỏ vảy và rễ con, rửa sạch, sấy nhỏ lửa cho khô hoặc để khô cứng mà dùng. Tuy nhiên với thân rễ cây gọi là bạch cập của ta thì chúng ta chỉ thu được những vị thuốc trông như bánh dày nhỏ.

Hoạt chất

Bạch cập chủ yếu chứa chất nhầy.
 

Dược năng

Bổ phế, chỉ huyết,sinh huyết, sát trùng, khử độc, sinh cơ.
 

Công dụng

Loại thuốc dùng để cầm máu, trị thổ huyết, khạc ra máu, chảy máu cam. Dùng ngoài đắp, bôi mụn nhọt, sinh cơ khỏi đau; cũng dùng đắp vết thương chém chặt. Bột của nó trộn dầu chữa bỏng, chân tay tê bì cũng có công hiệu tốt. Dân gian và các thầy thuốc cho rằng uống lâu có thể nhuận phế, chữa lao phổi, nhưng vị đắng nên cần cho thêm nhiều đường phèn uống mới tốt.

Liều dùng

Ngày dùng 3 – 15 g Bạch cập thường phối hợp trong các đơn thuốc chữa bệnh phổi, ho ra máu,Dùng dạng thuốc sắc hoặc nghiền bột rắc vào vết thương.
 

Chủ trị

Bạch cập làm thuốc cầm máu trong các bệnh ho ra máu, chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa, chảy máu ngoài. Bạch cập dùng ngoài để trị mụn nhọt lở loét, da nứt nẻ hoặc chân tay bị rạn nứt.

kiêng kỵ - chống chỉ định

Không kết hợp Bạch cập với Phụ tử, Ô đầu. Phế vị có thực hỏa không nên dùng.
 

Mời bạn bình luận hoặc đặt câu hỏi về bài thuốc này

Bình luận

Có 0 bình luận

Bài thuốc khác

Nhập thông tin của bạn

Top